Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

,



  • Dàn ý Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng 1
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng 2
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng 3
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng 4
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng 5

Đề bài: Về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng, chứ không phải cái buồn đau bi lụy.” (Quang Dũng – Tác phẩm chọn lọc, Trần Lê Văn, H1988)

Từ cảm nhận của anh (chị) về bài thơ Tây Tiến. Hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

Mục lục

  • Dàn ý Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 1
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 2
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 3
  • Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 4

Dàn ý Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng

I. Mở bài

– Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề

– Trích dẫn câu nói: Bài thơ Tây Tiến phảng phất những nét buồn đau bi tráng, chứ không bi lụy

II. Thân bài

a) Bài thơ Tây Tiến có phảng phất nhũng nét buồn, những nét đau:

1. Nét buồn:

– Tây Tiến phác hoạ một cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở

– Biết bao gian nan thử thách đón chờ đoàn quân Tây Tiến, bất cứ nơi nào, lúc nào cũng có thể làm cho người ta chùn bước.

Đó là cái hiểm trở của con đường hành quân

Đó là oai linh của rừng thiêng

Đó là cảnh thú dữ rình rập

2. Nét đau:

– Bệnh tật do lam sơn chướng khí

– Đó là sự đánh đổi quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp cho Tổ quốc trường tồn

– Đó là sự hi sinh

b) Nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, không phải bi luỵ

1. Nét đẹp:

– Sau một cuộc hành quân thật mệt mỏi là hình ảnh: Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

– Núi đèo cao ngất hiểm trở, nhưng đến đỉnh cao, người chiến sĩ say sưa phóng tầm mắt ra xa, ngắm nhìn cảnh vật mờ ảo dưới làn mưa rùng đầy quyến rũ

– Giữa những ngày hành quân gian khổ ấy, tâm trí của những chàng trai trong đoàn binh Tây Tiến luôn dành cho hoa, hoa về, hội đuốc hoa, hoa đong đưa. Và xúc cảm trước những hình ảnh lãng mạn, tuyệt đẹp

2. Nét hùng:

– Nét hùng tráng là khí vị chung của bài thơ, một khí vị hào hùng, quả cảm. Người đọc thấy cái đẹp chân thật, xúc động trước hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi vì núi rừng gieo neo, vì bụi bám đường xa, vì mệt nhọc, đói khát

– Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ và dữ dội với nhiều đường nét, hình khối, màu sắc chuyển đổi bất ngờ, đoàn quân Tây Tiến có vẻ nhỏ bé, đối lập với thiên nhiên. Nhưng chính sự đối lập đó đã làm tăng thêm khí phách hào hùng, dáng nét hiên ngang bất khuất không gì ngăn cản nổi của đoàn quân

– Nét hào hùng còn thể hiện rõ ở khí thế chiến đấu của họ. Ngay trong lúc bệnh tật, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn anh dũng chiến đấu

– Biết bao thanh niên đã dấn thân, đúng như hai chữ Tây Tiến, người chiến sĩ đã hăng hái mà tiến, vui vẻ mà tiến về miền Tây, dù có trông thấy nhũng nấm mo viễn xứ nằm rải rác biên cương và biết rằng rất có thể phút này bản thân họ còn tồn tại, phút sau sẽ thành hư vô.

=> Tóm lại, hai nét bi và tráng hoà lẫn nhau, tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng nổi bật vẫn là nét hùng tráng

III. Kết bài

– Ba mươi bốn câu thơ Tây Tiến đầy hình ảnh sáng tạo thể hiện nỗi nhớ thiết tha của hồn thơ tinh tế, tài thơ tuyệt diệu của Quang Dũng. Đặc biệt, nghệ thuật thơ vừa phản ánh những nét bi hùng của cuộc chiến đấu chống Pháp, vừa thể hiện tâm tình riêng tư của những người thanh niên yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

– Điều này cũng giải thích tại sao bài thơ Tây Tiến ra đời từ nửa thế kỉ trước, mà hôm nay ta vẫn rung động khi đọc những dòng thơ

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 1

    Tây Tiến là bài thơ tiêu biểu khẳng định tài năng của nhà thơ Quang Dũng. Bàn về bài thơ có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau nhưng đó là cái đau bi tráng chứ không phải là cái buồn đau bi lụy”. Với ý kiến này chúng ta có thể hiểu một cách trọn vẹn về bài thơ Tây Tiến.

    Mạch cảm xúc của bài thơ chính là nỗi nhớ, nỗi nhớ như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt bài thơ đưa nhà thơ trở về với những kỉ niệm đẹp. Trong hành trình của nỗi nhớ có phảng phất những nỗi đau, nỗi buồn. Những nỗi đau, nỗi buồn được nhà thơ tái hiện chân thật bằng cảm xúc chân thành. Tây Tiến vẽ lên một chặng đường dài đầy khó khăn và gian khổ giữa rừng núi hiểm trở. Ngay phần đầu của bài thơ, chúng ta đã nhìn thấy được sự mệt mỏi của đoàn quân: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Sương nhiều và lạnh buốt đến nỗi như vùi lấp từng bước đi của đoàn quân. Thế rồi hình ảnh “Anh bạn dãi dầu không bước nữa/Gục lên súng mũ bỏ quên đời” cũng phần nào đó cho thấy những giấc ngủ tranh thủ của người lính hay nhắc tới sự hi sinh trên đường hành quân của họ. Không chỉ vậy, hành trình chiến đấu còn có sự hiểm trở, hoang sơ, dữ dội của dốc núi cheo leo:

   “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

   Heo hút cồn mây súng ngửi trời

   Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

   Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.

    Cái oai linh của của nơi rừng thiêng nước độc, cảnh thú dữ rình rập cũng tác động đến con người phần nào đó: “Chiều chiều oai linh thác gầm thét/Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người “.Thế rồi khi bệnh tật, sự thiếu thốn khiến cho người lính có một ngoại hình thật đặc biệt: “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/Quân xanh màu lá dữ oai hùm ” và cũng vì vậy mà cái chết cũng luôn rình rập quanh họ: ” Rải rác biên cương mồ viễn xứ /Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh “.

    Tuy nhiên nỗi đau, nỗi buồn ở đây không toát lên sự bi lụy, yếu đuối, nhỏ bé của con người mà đó là cách nhìn thẳng vào thực tế của họ. Tận cùng bên trong của những nỗi buồn, nỗi đau đó là vẻ đẹp bi tráng đáng tự hào và ngưỡng mộ. Bi tráng vừa có tính chất bi ai có nghĩa là buồn nhưng cũng vừa có tính chất hùng tráng hay nói cách khác thì bi tráng vừa thể hiện nét bi thương vừa không làm mất đi vẻ gân guốc, mạnh mẽ. Trước những khó khăn trên hành trình, những người lính trẻ vẫn dành cho mình những giây phút bình yên để mà ngắm nhìn khung cảnh lãng mạn nơi rừng núi Tây Bắc hoang sơ và linh thiêng. Đó là những giây phút ngắm nhìn thiên nhiên ở Mường Lát trong đêm đêm hơi với hương hoa đặc biệt khiến cho tâm hồn người lính trở nên dịu dàng hơn sau những sự dữ dằn của cuộc hành trình: “Mường Lát hoa về trong đêm hơi “.

Xem thêm bài viết hay: 
Phân tích đoạn trích Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi hay nhất – Ngữ văn lớp 8

    Đặc biệt hơn cả trong việc thể hiện nghị lực vượt lên trên nỗi đau là ở cách Quang Dũng miêu tả sự hi sinh của người lính Tây Tiến. Nói đến cái chết nhưng không còn quá đau buồn mà là nổi bật lên là sự hào hùng:

    ” Rải rác biên cương mồ viễn xứ

   Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

   Áo bào thay chiếu, anh về đất

   Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

    Những nấm mồ nằm rải rác nơi biên cương xa xôi, lạnh lẽo không thể khiến cho người đọc cảm thấy sợ hãi và tuyệt vọng. Những từ Hán Việt mà nhà thơ đã sử dụng trong các câu thơ trên như là “biên cương “,”viễn xứ ” đã làm giảm cái nỗi đau thương và tuyệt vọng ấy. Không những thế, sự quyết tâm và khát vọng chiến đấu đến cùng của người lính”Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” đã làm mờ hẳn đi sự đau thương, sự sợ hãi. Vì độc lập, vì tự do của dân tộc mình người lính sẵn sàng hi sinh tất cả trong đó có cả tuổi thanh xuân của mình. Cách nói của họ thể hiện niềm tự hào, tự hào vì được hiến dâng cho đất nước. Trong chiến tranh có rất nhiều người đã hi sinh ngay đến cả một manh chiếu để liệm thân cũng không có, những người lính Tây Tiến cũng vậy. Nhưng qua cái nhìn của nhà thơ Quang Dũng sự ra đi của người lính Tây Tiến lại được bọc trong tấm áo bào sang trọng:”Áo bào thay chiếu anh về đất /Sông Mã gầm lên khúc độc hành ” . Hình ảnh chiếc áo bào gợi liên tưởng đến đến sự rực rỡ, đẹp đẽ, lộng lẫy và sang trọng. Sự bi thương, đau buồn trong cái chết của người lính không còn quá đậm nét mà trở nên nhẹ nhàng hơn nhờ cách nói giảm “anh về đất đất” . Về đất là trở về với đất mẹ thân thương trở về với những điều bình dị nhất và gần gũi nhất. Chính vì vậy, không có gì phải tiếc nuối và sợ hãi cả. Tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” là âm thanh đặc biệt. Trong bài thơ nghe tiếng sông Mã gầm lên, chúng ta lại hình dung một khúc ca bi tráng tiễn đưa người lính về nơi an nghỉ cuối cùng. Có lẽ sức nặng, nội lực của câu thơ tập trung ở động từ “gầm”. Âm hưởng của câu thơ đau xót, nghẹn ngào hơn bao giờ hết. Nó như một tiếng nấc trước sự hi sinh của người lính nhưng đó là tiếng nấc, tiếng khóc của sự tự hào của sự mạnh mẽ. Trong thực tế chúng ta có thể thấy rằng người lính Tây Tiến ra đi trong sự lặng lẽ âm thầm không kèn, không trống nhưng qua cách miêu tả và cảm nhận của nhà thơ thì âm thanh dòng sông Mã đã trở thành khúc nhạc hào hùng tiễn đưa linh hồn của họ về với đất mẹ thân yêu.

    Với những từ ngữ chính xác, tinh tế, hình ảnh chọn lọc đẹp đẽ kết hợp với hồn thơ vốn dĩ đã lãng mạn và hào hoa của Quang Dũng thiên nhiên và đặc biệt là người lính Tây tiến hiện lên chân thực với những sự gian nan của thực tế cuộc sống nhưng không hề đáng thương, yếu đuối mà vẫn giữ cho mình vẻ hùng dũng. Từ đó thể hiện được niềm tin và sức mạnh của thế hệ trẻ trước cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Phải là một người yêu quý và trân trọng Tây Tiến sâu nặng thì mới có thể viết được những vần thơ như thế.

    Qua việc tìm hiểu cả bài thơ, chúng ta đã hiểu về những nỗi đau và nỗi buồn mang màu sắc bi tráng của người lính Tây Tiến qua hồn thơ phóng khoáng, lãng mạn và hào hoa mang tên Quang Dũng. Những vần thơ của Tây Tiến khiến người đọc càng cảm thấy tự hào về một thế hệ đi trước đầy nhiệt huyết và dũng cảm, xứng đáng là một bài thơ tiêu biểu cho thơ ca cách mạng Việt Nam.

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 2

Quang Dũng là một nhà thơ đa tài với trái tim tình nghĩa. Có lẽ cũng vì như vậy mà khi phải chuyển đơn vị công tác mới và rời xa đồng đội của mình ông đã không kiềm được lòng mình. Bao tâm tư, tình cảm cùng những nỗi nhớ dạt dào của nhà thơ dành cho những người đồng đội cũ đã thôi thúc trái tim ông để rồi trong giây phút xúc động ấy ông đã đặt bút viết lên bài thơ “Tây Tiến”. Trong tác phẩm có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, chứ không phải là cái buồn đau bi lụy.

Con người dù có mạnh mẽ đến đâu cũng có lúc trong lòng thấy trống trải, cô đơn. Làm gì có ai trên đời không một phút thấy buồn đau, nhung nhớ khi phải xa rời những thứ thân thuộc đã gắn bó từng ngày. Thật vậy, còn gì đau buồn hơn khi phải xa rời những người đồng chí từng gắn bó, từng ăn ngủ và chiến đấu với mình. Họ đã cười cùng nhau, khóc cùng nhau và dường như mối quan hệ ấy thân thiết gắn bó như những người anh em trong nhà. Vậy mà giờ đây nói xa là xa, thoắt một cái mối quan hệ ấy bỗng bị ngăn cách bởi khoảng cách địa lý. Nhưng dù có xa xôi đến mấy thì trái tim họ vẫn luôn hướng về nhau, tình cảm là thứ có thể bức phá mọi giới hạn của vũ trụ, không gì có thể cản ngăn được nỗi niềm những người đồng đội dành cho nhau. Bài thơ “Tây Tiến” như là dòng cảm xúc mãnh liệt đang chảy cuồn cuộn trong trái tim nồng ấm của tác giả. Và đó là sự hồi tưởng lại những ngày tháng gắn bó bên nhau, những khó khăn, gian khổ nhưng rất anh dũng của người lính. Những dòng thơ như những dòng cảm xúc cuồn cuộn chảy đưa Quang Dũng trở lại những giây phút gắn bó cùng đồng đội.

Nỗi nhớ của người nghệ sĩ ấy được mở đầu bằng nỗi nhớ về rừng núi, nhớ về những cảnh vật gắn bó cùng ông suốt một quãng thời gian dài:

“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi”

Phải gắn bó, phải dành tình cảm nhiều đến mức nào thì tác giả mới có thể tả lại cảnh vật chi tiết đến thế. Nỗi nhớ ấy cứ phảng phất bao trùm lấy cảnh vật. Và đó cũng là những ngày tháng khó khăn và đầy gian khổ khi “Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Đó là sự mỏi mệt, khó khăn mà người lính hàng ngày vẫn gặp phải, nhưng bằng cách nào đó họ vẫn kiên cường bất khuất vượt qua. Không gì có thể cản phá được đôi bàn chân hành quân của người lính.

Cuộc sống đâu có chuyện gì là dễ dàng. Thật vậy, thiên nhiên vẫn không ngừng cản trở, gây khó khăn cho những người lính trẻ:

“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”

Đó là những con dốc ngoằn ngoèo hiểm trở, là những đoạn hành trình mỏi mệt đi mãi không điểm dừng. Thiên nhiên bao la hùng vĩ như thế nhưng luôn ẩn chứa những hiểm nguy không ngừng và để chinh phục được con thú hung dữ ấy người lính phải không ngừng nỗ lực để bứt phá được giới hạn bản thân và thuần hóa được con thú dưc ấy.

Xem thêm bài viết hay: 
Top 3 bài Phân tích tác phẩm Vĩnh biệt cửu trùng đài của Lưu Quang Vũ hay nhất – Ngữ văn lớp 11

Nhưng khó khăn đâu chỉ có là thiên nhiên hung dữ. Tuy họ là những anh hùng nhưng cũng là người bình thường và cũng có lúc ốm đau, bị bệnh tật hành hạ. Hành quân nơi rừng thiêng nước độc khiến họ đã mệt mỏi nay lại còn vật vã với bệnh tật. “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc”, “Quân xanh màu lá” tưởng chừng như là một hình ảnh thật đẹp thế nhưng ẩn sâu trong đó lại là những cơn đau ốm, quằn quại của người lính chống lại những cơn sốt rét điếng người. Thế nhưng dù đau ốm, bệnh tật nhưng hình tượng của người lính vẫn “dữ oai hùm” , lúc nào cũng đẹp, oanh liệt mà không hề khốn đốn bởi bệnh tật.

Sứ mệnh bảo vệ nơi biên cương luôn gắn liền với những khó khăn, mất mát. Có những người lính trẻ đã ra đi mãi mãi trong sự tiếc thương của đồng đội. Sự thiếu thốn đến tột cùng khi “áo bào thay chiếu, anh về đất”. Sự ra đi của người lính ấy chẳng theo một nghi lễ nào cả, chỉ có manh áo cùng đồng đội tiễn đưa anh lên đường. Lễ tang của anh chẳng có lấy một manh chiếu, thiếu thốn là thế nhưng Quang Dũng lại coi manh áo khoác cho người đồng chí của mình là áo bào, thứ mà chỉ dành cho vị vua cao quý. Sự ra đi của anh không theo một nghi thức thông thường nào cả mà nó mang tầm vóc đất trời. Sự mất mát ấy cũng khiến núi rừng thương xót để rồi “Sông Mã gồng lên khúc độc hành”.

Chẳng ai có thể nói trước được tương lai của người lính. Có những người bỏ mạng trên đường hành quân nhưng dù đã ra đi thì tâm hồn họ vẫn hướng theo những đồng đội của mình. Dẫu biết “Đường lên thăm thẳm một chia phôi” thế nhưng bước chân người lính vẫn cứ hành quân ngày qua ngày, dù mỏi mệt nhưng họ vẫn lạc quan tiến về phía trước.

Cuộc đời người lính luôn tiềm ẩn những khó khăn, gian khổ bởi hiểm nguy rình rập, bị bệnh tật, kẻ thù rình rập. Thế nhưng tâm hồn người lính vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Họ không hề khô khan, chai sạn mà cũng biết thưởng thức cảnh đẹp đất trời, sự lãng mạn hiếm có nơi rừng núi hiểm trở “Mường Lát hoa về trong đêm hơi”. Và khi đứng trên cao của ngọn núi hiểm trở nhìn xuống anh lại vô tình bắt gặp cảnh tượng lãng mạn hiếm có “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Tất cả như khiến anh càng thêm yêu quê hương, đất nước và tự nhủ chắc chắn phải bảo vệ chốn thân yêu này.

Trong cuộc hành quân ấy, người lính cũng được trải nghiệm cuộc sống của những người dân miền núi, họ cũng hòa mình vào để tận hưởng cái bầu không khí ấm cúng rộn ràng ấy:

“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”

Và hơn thế, trái tim người lính cũng biết yêu thương, rung động. Ở nơi xa xôi hiểm nguy ấy nhưng không lúc nào tình yêu của anh dành cho người yêu của mình vơi đi. Câu thơ “mắt trừng gửi mộng qua biên giới” thật là một cách sử dụng ngôn từ đắt. Tình yêu của người lính có thể vượt qua cả bom đạn, quân thù, bất kể ngày mai có ra sao nhưng trong tim anh luôn nồng nàn tình yêu dành cho người phụ nữ của mình. Anh dành tuổi xuân nơi đầu súng để đổi lấy yên bình cho quê hương nơi em ở, đó là một tình yêu thật vĩ đại và cao cả, thật lớn lao và xúc động.
Không phải cảnh vật trên đường hành quân lúc nào cũng tàn bạo, hung dữ mà nó cũng nên thơ, lãng mạn:

“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

Cảnh tượng người và thuyền ta đã bắt gặp nhiều lần nhưng lần này lại thấy đẹp đến lạ. Phải chăng đây là một bản tình ca còn đang dang dở đợi người trở về viết tiếp? Đó là nét phảng phất buồn của một tình yêu đẹp, một tâm hồn trong sáng chan chứa tình cảm đang ngước theo người yêu hay phải chăng đó cũng là đôi mắt đượm buồn của người thiếu nữ tiễn người thương lên đường đánh trận?

Thật vậy, cuộc đời người lính mặc dù có nhiều khổ đau, mất mát thế nhưng tâm hồn họ luôn tràn trề nghị lực và tình yêu cao cả. Họ bất khuất, anh dũng không chịu khuất phục, không có khó khăn nào có thể khiến họ dừng lại ngày kể cả cái chết. Cuộc sống khó khăn, thiếu thốn mà họ phải chịu thật mỏi mệt, đau đớn thế nhưng ở họ lại toát lên vẻ oai hùng, anh dũng của một tinh thần tuổi trẻ quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh.

Chiến tranh đã khiến con người phải trả một cái giá quá đắt. Nhiều người đã dành cả thanh xuân của mình để đổi lại hòa bình, cuộc sống yên vui cho con trẻ. Đứng nơi đầu sóng ngọn gió, nơi tận cùng của tổ quốc đầy hiểm nguy như thế nhưng vẫn có những con người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Họ sống hết mình, lạc quan và hăng say chiến đấu. Đó là những người lính trẻ, những vị anh hùng anh dũng hy sinh quên mình vì dân tộc. Tác phẩm “Tây Tiến” của Quang Dũng là một bức tượng đài bất hủ về hình tượng bi tráng của người chiến sĩ hết lòng vì dân vì nước, giai thoại về người lính sẽ còn được ghi nhớ đến muôn vạn đời sau về những con người nhỏ bé nhưng sức mạnh mang tầm vóc vũ trụ.

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 3

Nhà thơ Quang Dũng tên thật Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng. Năm 1947, ông làm Đại đội trưởng ở tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến. Ông tham gia chiến dịch Tây Tiến đợt hai, mở đường qua đất Tây Bắc. Ông làm bài thơ Tây Tiến năm 1948 khi dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III tại làng Phù Lưu Chanh (Hà Đông). Bàn về tác tác phẩm Tây Tiến, có ý kiến cho rằng: “Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, chứ không phải là cái buồn đau bi lụy”.

Cả bài thơ là những hình ảnh tái hiện lại đoàn quân Tây Tiến trong những ngày tháng hành quân chiến đấu gian khổ vì vậy nó quả là có phảng phất những nét buồn, những nét đau thương. Nhìn chặng đường hành quân của những người lính ta có thể thấy được họ đã phải vượt qua những gì. Đó là những sườn dốc thăm thẳm, cheo leo mà bất cứ khi nào người lính sảy chân đều có thể mất mạng như chơi. Đó là những cồn mây heo hút, nơi rừng thiêng nước độc và đoàn quân thì liên tục phải hành quân di chuyển trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, vai đeo nặng những quân trang quân dụng. Mỗi bước chân họ đi, mỗi con đường họ qua đều là những chặng đường đầy rẫy chông gai, luôn có cái chết chực chờ. Những hình ảnh ấy không khỏi khiến người đọc xót xa cho sự gian khổ của những người lính.

Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy thế nhưng những người lính lại không hề sợ hãi, không đau thương bi lụy.
Hãy nhìn xem phong thái cùng hành động của họ, không phải là run rẩy, đùn đẩy nhau, không phải là mệt mỏi cùng nhau lê bước mà họ vẫn hành quân một cách dũng mãnh kiên cường. Dù đường đi có khó khăn gian khổ họ vẫn mang trong mình niềm tin và tình yêu. Bằng chứng là họ vẫn quan sát và cảm nhận thiên nhiên đất trời bằng tất cả vẻ đẹp sức sống của nó. Họ nhớ về nó với những nét xinh đẹp lãng mạn nhất. Từ Sài Khao sương lấp, Mường Lát hoa về, Pha Luông mưa xa khơi,…

Xem thêm bài viết hay: 
Top 2 bài Cảm nghĩ về bài thơ Phò giá về kinh hay nhất – Văn mẫu lớp 7

Không những trong cuộc sống đời thường và khi hành quân họ đều vui vẻ, yêu đời mà trong khi chiến đấu họ cũng vô cùng anh dũng, quả cảm. Họ coi những thiếu thốn khó khăn nơi chiến trường là những câu chuyện cười hài hước. Sốt rét rừng làm rụng tóc cũng chỉ khiến họ trông láu cá, oai hùng hơn. Sự chiến đấu và hi sinh của họ là bi tráng chứ không hề bi lụy. Cách mà họ ra đi vĩnh viễn được coi nhẹ tựa lông hồng, như một sự gửi gắm chứ không phải là cái chết đầy thảm thương bi kịch. Dù người lính nằm xuống trong tình trạng không có lấy một manh chiếu, không có một nấm mồ tử tế thì với họ, điều ấy cũng không quan trọng, họ vẫn ví von chiếc áo trấn thủ của mình là áo bào, coi sự ra đi của mình là một việc nhẹ nhàng. Chính thái độ của họ, của những người trong cuộc đã khiến cho người đọc không cảm thấy ám ảnh, bi ai về quá trình chiến đấu và hi sinh của họ.

Cách viết của nhà thơ Quang Dũng vừa lột tả lại bức tranh hành quân, sống và chiến đấu vô cùng sinh động của đoàn quân Tây Tiến vừa xây dựng lên một tượng đài anh dũng, bất khuất của những người lính binh đoàn này.
Qua đây người đọc có thể thấy được sự hùng dũng, hiên ngang cùng những gian khổ hi sinh của người lính. Họ hào hùng, bi thương mà vẫn vô cùng hùng tráng và đầy nghĩa khí.

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau, nhưng đó là cái đau bi tráng – mẫu 4

Tây Tiến là tên một đơn vị quân đội được thành lập năm 1947, phối hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Lào – Việt và tiêu hao lực lượng Pháp ở miền Tây Bắc Bộ. Năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, viết bài thơ Tây Tiến, một trong những tác phẩm nổi tiếng mà Trần Lê Văn đã nhận xét: “Bài thơ Tây Tiến…”

Bài thơ Tây Tiến có phảng phất những nét buồn, những nét đau

Nét buồn:

Tây Tiến phác họạ một cuộc hành quân dài ngày giữa núi rừng hiểm trở. Mở đầu bài thơ, ẩn hiện sau lớp sương mù dày đặc của núi rừng là hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

Anh bạn dãi dầu không bước nữa.

Biết bao gian nan thử thách đón chờ đoàn quân Tây Tiến, bất cứ nơi nào, khi nào cũng có thể làm cho người ta chùn bước. Đó lá cải hiểm trở của con đường hành quân:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm,

Đó là oai linh của rừng thiêng:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét,

Đó là cảnh thú dữ rình rập:

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người,

Nét đau:

Bệnh tật do lam sơn chướng khí:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

“Hồi ấy ở rừng, sốt rét hoành hành dữ. Đánh trận, tử vong ít, sốt rét, tử vong nhiều” (Trần Lê Văn). Cho nên đoàn binh không mọc tóc và quân xanh màu lá vì màu da của chiến sĩ xanh lướt và tóc bị rụng do sốt rét rừng hành hạ.
Đó là sự đánh đổi quãng đời tuổi trẻ tươi đẹp cho Tổ quốc trường tồn:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.

Đó là sự hi sinh:

Áo bào thay chiếu anh về đất,

Nếu không có được một lòng yêu nước thiết tha, một ý chí kiên cường, người chiến sĩ Tây Tiến có thể ngã lòng, bỏ cuộc. Nhưng trái lại, họ đối mặt, đương đầu với mọi gian khổ, thử thách, bệnh tật, chết chóc và vượt lên tất cả với một hào khí ngất trời:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Nhưng đó là cái buồn đau bi tráng, không phải bi lụy nó là nét đẹp. Sau một cuộc hành quân thật mệt mỏi là hình ảnh:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Núi đèo cao ngất hiểm trở, nhưng đến đỉnh cao, người chiến sĩ say xưa phóng tầm mắt muôn xa, ngắm nhìn cảnh vật mờ ảo dưới làn mưa rừng đầy quyến rũ:

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Núi rừng thật dữ dằn, chiều chiều oai linh thác gầm thét, đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người, nhưng những sản vật của vùng cao đã mạng lại bao hương vị ngọt ngào, nồng ấm.

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Và những đêm liên hoan vui vầy:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,

Kìa em xiêm áo tự bao giờ.

Giữa những ngày hành quân gian khổ ấy, tâm trí của những chàng trai trong đoàn binh Tây Tiến luôn dành cho hoa, hoa về, hội đuốc hoa, hoa đong đưa. Và xúc cảm trước những hình ảnh lãng mạn, tuyệt đẹp:

Người đi Châu Mộc chiều hôm ấy,

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Có nhớ dáng người trên độc mộc,

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Cũng có lúc, người chiến sĩ Tây Tiến thả hồn thơ mộng:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Nét hùng tráng là khí vị chung của bài thơ, một khí vị hào hùng, quả cảm. Người đọc thay cái đẹp chân thật, xúc động trước hình ảnh một đoàn quân mệt mỏi vi núi rừng cheo leo, vì bụi bám đường xa, vì mệt nhọc, đói khát, cho nên:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa,

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

Trên cái nền thiên nhiên kì vĩ, hoang sơ và dữ dội với nhiều đường nét, hình khối, màu sắc chuyển đổi bất ngờ, đoàn quân Tây Tiến có vẻ nhỏ bé, đối lập với thiên nhiên. Nhưng chính sự đối lập đó đã làm tăng thêm khí phách hào hùng, dáng nét hiên ngang bất khuất không gì ngăn cản nổi của đoàn quân:

Heo hút cồn mây súng ngửi trời,

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống.

Nét hào hùng còn thể hiện rõ ở khí thế chiến đấu của họ. Ngay trong lúc bệnh tật, người chiến sĩ Tây Tiến vẫn anh dũng chiến đấu:

“Như trận Dốc Đê (trên đường từ phố Vàng sang Mường Bi), có những chiến sĩ sốt rét run cầm cập vẫn nằm nguyên ở vị trí chiến đấu, bắn súng, ném lựu đạn, vần đá từ trên cao xuống, tiêu diệt nhiều tên địch. Bọn giặc sống sót phải rút lui xuống Suối Rút”. (Trần Lê Văn)

Biết bao thanh niên đã dấn thân, đúng như hai chữ Tây Tiến, người chiến sĩ đã hăng hái mà tiến, vui vẻ mà tiến về miền Tây, dù có trông thấy những nấm mồ viễn xứ nằm rải rác biên cương và biết rằng rất có thể phút này bản thân họ còn tồn tại, phút sau sẽ thành hư vô.

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Cái tiếng gầm rung chuyển của dòng sông Mã ngự trị cả một vùng thiên nhiên đang ngưỡng vọng sự hào tráng, khí phách anh hùng của những chàng trai Tây Tiến gây ấn tượng thật sâu sắc cho người đọc.

Tóm lại, hai nét bi và tráng hoà lẫn nhau, tạo nên sức hấp dẫn của bài thơ, nhưng nổi bật vẫn là nét hùng tráng.
Ba mươi bốn câu thơ Tây Tiến đầy hình ảnh sáng tạo thể hiện nỗi nhớ thiết tha của hồn thơ tinh tế, tài thơ tuyệt diệu của Quang Dũng. Đặc biệt, nghệ thuật thơ vừa phản ánh những nét bi hùng của cuộc chiến đấu chống Pháp, vừa thể hiện tâm tình riêng tư của những người thanh niên yêu nước trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

Điều này cũng giải thích tại sao bài thơ Tây Tiến ra đời từ nửa thế kỉ trước, mà hôm nay ta vẫn rung động khi đọc những dòng thơ:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Xem thêm các bài văn mẫu lớp 12 Ôn thi THPT Quốc gia khác:

Các loạt bài lớp 12 khác